Cái Chết Của Lâm Bưu (15)


Cái Chết Của Lâm Bưu
Người Thừa Kế Mao Trạch Đông

Tài liệu lịch sử
Nguyễn Vạn Lý tổng hợp

*

Chương Một       Những Nghi Vấn Về Một Cái Chết

Lâm Bưu chết ngày 12-9-1971. Trước khi chết, Lâm Bưu là một trong những lãnh tụ quân sự và chính trị hàng đầu của Trung Cộng. Lâm Bưu đã tạo được danh tiếng lẫy lừng trên chiến trường trong thời kỳ Trung-Nhật Chiến Tranh. Sau đó trong cuộc chiến Quốc-Cộng Trung Hoa, Lâm Bưu đã thắng những trận đánh quyết định, suốt từ Mãn Châu tới tận đảo Hải Nam, đuổi Tưởng Giới Thạch và đại quân Quốc Dân Đảng ra ngoài hải đảo Đài Loan.

Sau chiến thắng của phe cộng sản Trung Hoa năm 1949, Lâm Bưu được phong chức thống chế, một trong mười thống chế của hồng quân Trung Cộng. Tuy vậy vai trò của Lâm Bưu bị lu mờ trong suốt mười năm. Mãi tới năm 1959 Lâm Bưu mới tái xuất hiện trên chính trường Trung Hoa với chức bộ trưởng quốc phòng, thay thế thống chế Bành Đức Hoài. Năm đó trong cuộc đại hội đảng tại Lư Sơn, thống chế Bành Đức Hoài, bộ trưởng quốc phòng, đã viết một lá thư gửi cho Mao Trạch Đông, phê bình kế hoạch Bước Tiến Nhảy Vọt của Mao Trạch Đông là một sai lầm. Mặc dù Bành Đức Hoài thận trọng dùng những lời lẽ dè dặt khen ngợi trước rối mới dám chê, nhưng Mao Trạch Đông vẫn nổi giận, ép buộc đại hội đảng phải thông qua cái gọi là “Nghị quyết về tập đoàn chống đảng do Bành Đức Hoài cầm đầu.”

Rồi Mao cách chức bộ trưởng quốc phòng của Bành Đức Hoài, và sau này, trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hoá, họ Bành bị hồng vệ binh đấu tố và bị bỏ mặc chết trong bệnh viện vì bệnh ung thư. Kể từ ngày Bành Đức Hoài bị Mao Trạch Đông thanh trừng, ngôi sao của Lâm Bưu mỗi ngày một thêm sáng chói trên chính trường Trung Cộng. Năm 1966 Lâm Bưu được bầu vào chức phó chủ tịch cộng đảng Trung Hoa, và đến năm 1969 thì được chỉ định làm người thừa kế Mao Trạch Đông. Như vậy vào lúc chết, Lâm Bưu được kể là người có quyền lực mạnh thứ nhì tại lục địa Trung Hoa, chỉ đứng sau một mình Mao Trạch Đông.

Thoạt đầu các tin tức về cái chết của Lâm Bưu được chính quyền Trung Cộng giữ rất kín như một bí mật quốc gia. Ngay cả các đảng viên cao cấp cũng không hề hay biết. Người ta chỉ nhận thấy một dấu hiệu bất thường là mười viên tướng tư lệnh các quân khu, được nhật lệnh của Bộ Chính Trị phải chuẩn bị đối phó với một trường hợp khẩn cấp có thể xảy ra. Tuy nhiên nhật lệnh ấy không hề giải thích lý do, và cũng không có dấu tích gì liên hệ tới Lâm Bưu.

Trong những tuần lễ sau đó, dân chúng Trung Hoa vẫn tiếp tục sùng kính Lâm Bưu, người thừa kế và là đồng chí thân cận nhất của Mao Trạch Đông. Các khẩu hiệu của Lâm Bưu vẫn còn treo nguyên vẹn bên cạnh các tư tưởng của Mao Trạch Đông, ngay tại quảng trường Thiên An Môn. Tháng 10-1971, tờ Nhân Dân nhật báo, cơ quan thông tin chính thức của nhà nước Trung Cộng, vẫn đăng hình Lâm Bưu và Mao Trạch Đông đứng cạnh nhau, trông vẫn thân mật như trước.

Nhưng trong lúc hình ảnh của Lâm Bưu vẫn tiếp tục hiện diện trước công chúng thì Lâm Bưu đã không còn nữa. Hàng năm Lâm Bưu vẫn xuất hiện cạnh Mao Trạch Đông trước quảng trường Thiên An Môn tại Bắc Kinh trong ngày lễ quốc khánh 1-10. Nhưng buổi lễ quốc khánh thường niên đó của năm 1971 bỗng nhiên bị bãi bỏ. Để tránh sự thắc mắc của quần chúng, chính quyền Bắc Kinh giải thích rằng một sự tập trung quá đông người như vậy sẽ dễ trở thành mục tiêu bị tấn công bằng vũ khí nguyên tử của Nga sô.

Mãi mấy tháng sau, các tin tức đầu tiên về cái chết của Lâm Bưu mới bắt đầu được loan truyền một cách rất thận trọng, bằng tài liệu tối mật: “Tội Ác Của Lâm Bưu” do Bộ Chính Trị công bố. Nhưng chỉ một số ít đảng viên cao cấp mới được đọc tài liệu này. Sau đó là việc cách chức một số tướng lãnh thân tín của Lâm Bưu, như tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng, tư lệnh không quân Ngô Pháp Hiến, chính ủy hải quân Lý Tác Bằng, và tư lệnh quân nhu Khâu Hộ Tác. Đến tháng 11-1971, một số sắc lệnh được ban hành với mục đích thâu hồi mọi ấn phẩm và hình ảnh của Lâm Bưu.

Mãi đến ngày 13-1-1972, các nhân vật cao cấp trong đảng và nhà nước mới nhận được bản tin đầy đủ về cái chết của Lâm Bưu. Theo bản tin này thì Lâm Bưu bị buộc vào tội âm mưu ám sát Mao Trạch Đông, và chính Lâm Lập Quả, con trai Lâm Bưu, được giao phó thi hành kế hoạch ám sát Mao. Khi công việc bại lộ thì Lâm Bưu định trốn sang Nga Sô bằng phi cơ, nhưng Lâm Bưu bị tử nạn khi phi cơ của Lâm Bưu rơi tại Mông Cổ.

Cuối cùng đến ngày 26-6-1972, nghĩa là gần mười tháng sau khi Lâm Bưu chết, chính quyền Trung Cộng mới công bố đầy đủ chi tiết về cái chết của Lâm Bưu bằng cuốn sách “Hồ Sơ Lâm Bưu,” trong đó có những lời thú tội của thuộc hạ Lâm Bưu, và các chứng cớ ghi âm, hoặc nhật ký và thư từ. Hồ sơ về cái chết của Lâm Bưu được phân phát cho các đảng viên để họ công bố cho dân chúng. Theo tập hồ sơ này thì Bộ Chính Trị của Trung Cộng đã giải thích về cái chết của Lâm Bưu như sau đây:

Trong phiên họp toàn thể Ban chấp hành trung ương, diễn ra ở Lư Sơn trong tháng 8 – tháng 9 năm 1970, người ta ghi nhận có sự rạn nứt giữa Mao Trạch Đông và Lâm Bưu về việc kế vị Mao. Lâm Bưu muốn phục hồi chức vụ Chủ tịch nhà nước – chức vụ này Lưu Thiếu Kỳ đã đảm nhiệm sau khi Mao từ chức năm 1959. Khi Lưu Thiếu Kỳ bị thanh trừng, chức vụ này bị bãi bỏ. Lâm Bưu muốn khôi phục chức vụ này và gợi ý rằng Mao lại đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch nhà nước như trước. Lâm Bưu biết rằng Mao sẽ từ chối, và hy vọng rằng khi đó người ta sẽ chọn Lâm Bưu. Mao biết thâm ý của Lâm Bưu muốn nắm một chức chủ tịch, nên quyết liệt bác bỏ ý kiến của Lâm Bưu. Dưới mắt Mao, tham vọng của Lâm Bưu là một tội không thể tha thứ được.

Lâm Bưu cảm thấy Mao không còn ưa mình nữa và có thể bị Mao loại bỏ, nên bắt đầu âm mưu một cuộc đảo chánh để loại Mao trước. Lâm Bưu dụ dỗ con trai là Lâm Lập Quả và tổ chức hoạt động của Lâm Lập Quả hợp tác với mình trong công cuộc chống lại Mao. Cả hai đã hoàn thành một kế hoạch làm nổ tung xe lửa chở Mao trong một chuyến đi kinh lý của Mao về miền nam Trung Hoa. Mao biết được âm mưu này nên bất thần quay trở về Bắc Kinh. Khi được tin Mao đã về đến Bắc Kinh, Lâm Bưu quyết định di chuyển tổ chức chống đối và phe nhóm về Quảng Châu, và tại đó Lâm Bưu sẽ tiếp tục các hoạt động phản loạn.

Nhờ sự tiết lộ của Lâm Đậu Đậu, con gái của Lâm Bưu, Chu Ân Lai biết được dự định của Lâm Bưu nên đã ra lệnh kiểm soát gắt gao các phi trường tại Trung Cộng, không cho phép bất cứ một phi cơ nào được cất cánh. Trong lúc đó, Lâm Bưu đang nghỉ tại Bắc Đới Hà trong vịnh Bắc Hải, cách xa Bắc Kinh khoảng hai trăm cây số. Lâm Bưu cảm thấy thất bại bèn quyết định trốn sang Nga Sô.

Nửa đêm ngày 12-9-1971, một chiềc xe hơi sang trọng, cắm cờ đỏ tiến vào phi trường của hải quân tại Sơn Hải Quan trong vùng Bắc Đới Hà. Tại đây một chiếc phản lực cơ Trident do Anh Quốc chế tạo mang số 256 đang chờ sẵn. Lâm Lập Quả là người đầu tiên bước xuống xe và la to: “Lẹ lên!” Theo sau Lâm Lập Quả là Lâm Bưu và bà vợ Diệp Quần. Tất cả chạy vội lên chiếc phi cơ mang số 256. Chiếc Trident cất cánh ngay tức khắc, mặc dù không đủ phi hành đoàn và bất tuân lệnh ngăn chặn của giới chức quân sự tại phi trường. Thủ tướng Chu Ân Lai được tin Lâm Bưu chạy trốn và lập tức báo cáo cho Mao Trạch Đông. Mao Trạch Đông vẫn để mặc Lâm Bưu chạy trốn mà không ra lệnh đuổi bắt. Mao nói với Chu Ân Lai, “Trời có lúc đổ mưa. Vợ có lúc cải giá. Thôi, cứ để hắn đi!”

Một giờ sau đó chiếc phi cơ chạy trốn Trident biến khỏi tầm ra đa của Trung Cộng. Nhưng chỉ vài giờ sau, chiếc phi cơ chạy trốn hết nhiên liệu và đâm xuống vùng Ulan Bator của Mông Cổ. Các nhân viên toà đại sứ Trung Cộng tại Mông Cổ đã đến tận chiếc phi cơ lâm nạn để điều tra. Họ đã tìm thấy xác của tám người đàn ông và một người đàn bà. Tất cả chín người này được chôn ngay tại nơi tai nạn xảy ra.

***

Sự giải thích về cái chết của vợ chồng Lâm Bưu trong “Hồ Sơ Lâm Bưu” có nhiều điểm rất đáng nghi ngờ. Trước hết hồ sơ không đưa ra một bằng chứng cụ thể nào về tội tạo phản của Lâm Bưu. Tuy trong hồ sơ có những lời thú tội của các tướng thuộc hạ của Lâm Bưu, nhưng những lời thú tội hoặc tố cáo Lâm Bưu này có thể do sự tra khảo hoặc mua chuộc mà có. Hơn nữa lời buộc tội chỉ căn cứ vào những dự định của phe Lâm Bưu mà thôi.

Điều đáng ngạc nhiên là trong hồ sơ chỉ nói đến các hoạt động của Lâm Lập Quả và phe nhóm. Theo hồ sơ này thì Lâm Bưu dường như giao phó tất cả trách nhiệm đảo chánh và ám sát Mao Trạch Đông cho cậu con trai còn ít tuổi, không có kinh nghiệm về quân sự và chính trị. Đây là một điều trái hẳn với bản chất rất thận trọng cố hữu của Lâm Bưu. Lâm Bưu là một thiên tài về quân sự, và đặc tính của Lâm Bưu là chỉ ra quân khi đã nắm chắc phần thắng.

Lâm Bưu sinh năm 1907 tại Hồ Bắc, gia nhập đảng cộng sản năm 1925 và tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố. Lâm Bưu đã nổi danh từ cuộc Vạn Lý Trường Chinh. Đến năm 1937, Lâm Bưu tạo được một chiến thắng lẫy lừng khi sư đoàn 115 của Lâm Bưu đánh bại quân Nhật tại Bình Hình Quan. Đây là lần đầu tiên quân Trung Hoa chiến thắng quân Nhật tại chiến trường. Năm 1938, Lâm Bưu bị thương nặng và được đưa sang Nga Sô điều trị. Trong thời gian điều trị, Lâm Bưu đảm nhiệm chức vụ đại diện cho Trung Cộng tại tổ chức cộng sản quốc tế tại đây. Lâm Bưu được Stalin rất kính trọng và biệt đãi. Năm 1942 Lâm Bưu trở về Trung Hoa và đến năm 1945 thì Lâm Bưu dẫn hồng quân tiến vào Mãn Châu, thành lập đệ tứ lộ quân, một lộ quân mạnh nhất của Trung Cộng. Trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng, Lâm Bưu đã tiến quân khắp nước Trung Hoa, từ bắc xuống nam, thắng những trận danh tiếng như trận Liễu Ninh và trận Bắc Kinh-Thiên Tân. Chính Lâm Bưu đã dẫn hồng quân vượt sông Dương Tử, chiếm trọn vẹn miền trung và nam Trung Hoa, và tiến tới mỏm cực nam của Trung Hoa là đảo Hải Nam. Lâm Bưu đã góp phần đánh bại đạo quân hai triệu bảy trăm ngàn quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch.

Lâm Bưu được coi là một chiến lược gia và là một tư lệnh chiến trường bách chiến bách thắng. Ưu điểm lớn nhất của Lâm Bưu là lòng tự tin. Lâm Bưu là một người có tinh thần tuyệt đối độc lập và chỉ trông cậy vào chính mình, như lời Lâm Bưu thường căn dặn viên tướng tham mưu trưởng, “Trong hoàn cảnh sinh tử, người khác chỉ là phụ; chỉ chính ta mới thực là quan trọng. Đó là bí quyết của chiến thắng.” Trong cuộc chiến tại Hàn Quốc giữa Trung Cộng và quân đội Liên Hiệp Quốc, Lâm Bưu đã cả gan cưỡng lại lệnh của Mao Trạch Đông, không chịu nhận chức tư lệnh hồng quân tại Hàn Quốc. Lâm Bưu đưa lý do sức khoẻ để từ chối, nhưng về sau Lâm Bưu tâm sự phải từ chối chức tổng tư lệnh là vì không hiểu rõ quân đội Mỹ, và không cảm thấy thoải mái với những điều kiện chiến đấu tại Hàn Quốc. Khi Lâm Bưu từ chối thì Bành Đức Hoài được chỉ định vào chức tổng tư lệnh hồng quân tại Hàn Quốc thay Lâm Bưu.

Lâm Bưu từ chối tham chiến tại Hàn Quốc chỉ vì không nắm chắc được phần thắng. Lâm Bưu giải thích, “Nếu ta tự tin thì ta mới hy vọng chiến thắng. Ta phải tuỳ thuộc rất ít vào khả năng của người khác, dù người khác có nhiều kinh nghiệm và mạnh đến thế nào. Đây là bí quyết: Trước hết, ta không được tin tưởng vào người khác. Thứ hai, ta không được phép không làm gì cả; ta phải chính là đầu não của mọi sinh hoạt chiến trường. Thứ ba, cách tự bảo vệ hay nhất là trước hết phải làm kẻ địch đổ máu và hủy diệt tinh thần hăng say chiến đấu của địch quân. Để đạt đến chiến thắng, ta phải đẩy địch quân vào thung lũng của tử thần ngay từ đợt tấn công đầu tiên, vì kẻ nào nhanh tay sẽ thắng.” Trong quân sự, chính Lâm Bưu đã từng nêu ra nguyên tắc “Tam Tiên”, có nghĩa là ba việc ưu tiên phải làm trước tại chiến trường: phải chiếm đỉnh cao trước, nổ súng trước và xung phong trước.

Mao Trạch Đông từng gọi Lâm Bưu là “thống chế vô song” hoặc “thống chế bất bại.” Stalin ca ngợi Lâm Bưu là “một tư lệnh hàng đầu của Trung Hoa mà sự thông minh và can đảm vượt hẳn mọi người.” Tưởng Giới Thạch thì nguyền rủa Lâm Bưu là “một con quỷ chiến tranh nắm được chìa khoá bí mật của quân sự.” Một người như thế thì không thể nào giao phó cho vợ con điều hành công cuộc chiến đấu sinh tử chống lại Mao Trạch Đông và chỉ thu mình như một con rùa ngoài Bắc Đới Hà.

Một nghi vấn nữa là Lâm Bưu có vẻ chấp nhận chiến bại một cách quá dễ dàng. Việc Mao Trạch Đông trở về Bắc Kinh chưa phải là một sự hăm doạ cho Lâm Bưu. Theo hồ sơ thì Lâm Bưu còn có kế hoạch dùng Quảng Châu làm căn cứ chống lại Mao. Tại sao Lâm Bưu bỏ chạy trước khi thi hành kế hoạch này trong lúc chưa bị nguy hiểm? Một viên tướng lừng danh bách chiến bách thắng như thế không lẽ về già lại hèn nhát đến thế sao?

Theo hồ sơ thì phi cơ chở Lâm Bưu cất cánh từ Sơn Hải Quan, nhưng theo các tài liệu khác thì chiếc phi cơ này cất cánh từ Bắc Kinh. Thực ra Lâm Bưu không có mặt tại Bắc Đới Hà ngày 12-9-1971. Lâm Bưu đã trở về Bắc Kinh trước ngày đó, và nhiều nhân vật cao cấp của Trung Cộng cũng biết như vậy.

Người ta cho biết lý do phi cơ chở Lâm Bưu lâm nạn là vì hết nhiên liệu. Đây là một sự vô lý hiển nhiên. Với quyền hành của phó chủ tịch đảng kiêm bộ trưởng quốc phòng, và tư lệnh không quân là người cùng âm mưu đảo chánh với mình, mà Lâm Bưu không thể lấy được một phi cơ với đầy đủ nhiên liệu và phi hành đoàn hay sao? Tại sao Lâm Bưu phải chạy trốn sang Nga Sô trong lúc hồ sơ cho biết Lâm Bưu có âm mưu dùng Quảng Châu làm căn cứ chống đối? Chắc chắn Lâm Bưu không chết trong chiếc phi cơ lâm nạn tại Mông Cổ.

Theo hồ sơ thì xác các nạn nhân được chôn ngay tại chỗ phi cơ lâm nạn. Theo luật quốc tế thì xác nạn nhân tử nạn trong một chuyến bay phải trả về nguyên quán. Trong trường hợp này, các nạn nhân là những nhân vật quan trọng trong guồng máy quân sự và chính trị của Trung Cộng, mà nơi xảy ra tai nạn chỉ cách biên giới Trung Cộng vài trăm cây số, thì không có lý do gì có thể biện minh cho việc chôn cất họ một cách vội vàng ngay tại nước Mông Cổ.

Ngoài ra, theo một bản tin bán chính thức của Nga Sô loan tải trong tháng 11-1971, thì những thi hài nơi xảy ra vụ rơi máy bay gồm có thi hài của bẩy người đàn ông và hai người đàn bà, tất cả đều dưới năm mươi tuổi. Nguồn tin này cũng cho biết người ta chỉ xác nhận được thi hài của Lâm Lập Quả, còn những thi hài khác không được xác nhận.

Nếu Lâm Bưu có tội thực thì tại sao Mao Trạch Đông không dám công bố cái chết của Lâm Bưu và các bằng chứng phạm tội ngay khi Lâm Bưu chết? Tại sao phải giấu diếm che đậy ngay cả đối với các đảng viên cao cấp, nếu bên trong không có những sự mờ ám và bất lợi về phía Mao Trạch Đông?

Thực ra đây chỉ là một cuộc tranh chấp quyền hành cố hữu giữa các phe phái trong một chế độ cộng sản. Các đồng chí thân thiết nhau có thể đâm lén nhau, hạ độc thủ trong lúc âu yếm nhau là một việc thường xẩy ra trong các nước cộng sản. Mao Trạch Đông chủ trương bưng bít cái chết của Lâm Bưu là để giữ nguyên vẹn thần tượng số một của mình. Cái chết của Lâm Bưu đến bất thình lình nên Mao không kịp chuẩn bị bịa đặt một sự giải thích có lợi cho Mao. Phản ứng cấp thời của Mao là ra lệnh giữ kín cái chết này, và giao cho một nhân vật đầu não trong Bộ Chính Trị sáng tác ra cái chết của Lâm Buu như chúng ta vừa đọc ở trên.

Cái chết của Lâm Bưu không xẩy ra như trong “Hồ Sơ Lâm Bưu” của Bộ Chính Trị Trung Cộng. Trong những chương sau đây, chúng tôi sẽ trình bầy tất cả sự thực về cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai nhân vật số một và số hai của Trung Cộng trong đầu thập niên 1970, và những giây phút cuối cùng của vợ chồng Lâm Bưu.

Để lại phản hồi

Đăng trong Truyện dài

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s